Báo giá đặt tên công ty đáng tin là báo giá nói rõ bạn trả cho những bước nào, bao nhiêu vòng, bao nhiêu tên, kiểm tra ở phạm vi nào, và cái gì không bao gồm. Hai báo giá chênh nhau gấp mấy lần thường không phải vì một bên đắt vô lý, mà vì phạm vi khác nhau. So sánh chỉ có ý nghĩa sau khi quy hai báo giá về cùng một phạm vi.
Bài này không nêu giá thị trường vì giá thay đổi theo đơn vị, ngành và thời điểm; các con số xuất hiện đều là ví dụ giả định để minh hoạ cách tính. Trọng tâm là giúp người thuê đọc ra được báo giá đang bán cái gì và hỏi lại đúng chỗ.
Các khoản cấu thành một báo giá đặt tên
Không phải báo giá nào cũng ghi đủ các dòng này, nhưng giá bạn trả luôn được tính từ chúng. Khi một dòng vắng mặt, hỏi xem nó được gộp vào đâu hay không có.
| Khoản | Gồm gì | Câu hỏi nên đặt |
|---|---|---|
| Tìm hiểu, phỏng vấn | Buổi làm việc, nghiên cứu đối thủ, viết bản định hướng | Có bao nhiêu buổi, với ai, bản định hướng có được duyệt không? |
| Sáng tạo | Số người tham gia, số tên trong danh sách dài | Danh sách dài có được xem không? |
| Sàng lọc, kiểm sơ bộ | Tra tên doanh nghiệp, nhãn hiệu, tên miền cho danh sách ngắn | Kiểm ở đâu, cho bao nhiêu tên, có ngày kiểm không? |
| Vòng sửa | Số lần điều chỉnh danh sách sau góp ý | Bao nhiêu vòng, vòng thêm tính thế nào? |
| Kiểm sâu | Đánh giá khả năng bảo hộ, kiểm ngôn ngữ | Do ai làm, có chuyên viên sở hữu trí tuệ không? |
| Thủ tục | Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, nộp đơn nhãn hiệu | Phí dịch vụ và lệ phí nhà nước tách riêng chưa? |
Dòng "kiểm sơ bộ" và "kiểm sâu" là chỗ chênh lệch lớn nhất giữa các báo giá. Một bên chỉ tra cứu trên mạng, một bên có chuyên viên đánh giá khả năng bảo hộ trong đúng nhóm hàng hoá, dịch vụ; cả hai đều có thể ghi chung là "kiểm tra trùng lặp".
Ba kiểu tính giá và rủi ro của từng kiểu
Cách tính giá ảnh hưởng tới động cơ của bên làm dịch vụ. Ví dụ là giả định.
| Kiểu tính | Cách hiểu | Có lợi cho người thuê khi | Rủi ro |
|---|---|---|---|
| Trọn gói theo dự án | Một khoản cho toàn bộ phạm vi đã thoả thuận | Phạm vi rõ, số vòng rõ | Bên làm có động cơ làm vừa đủ phạm vi; phát sinh ngoài phạm vi tính thêm |
| Theo giờ hoặc ngày công | Trả theo thời gian thực làm | Dự án nhỏ, chỉ cần một phần việc như một buổi hội thảo | Khó dự toán tổng; cần trần chi phí |
| Theo kết quả | Trả phần lớn chỉ khi chốt được tên | Người thuê lo không ưng tên nào | Bên làm có thể ép chốt sớm; giá thường cao hơn để bù rủi ro |
Với doanh nghiệp nhỏ, trọn gói theo dự án thường dễ quản lý nhất, miễn là phạm vi được viết ra đủ chi tiết. Nếu chọn kiểu theo kết quả, hãy định nghĩa rõ "chốt" là gì: bạn chọn một tên, hay tên đó đã qua kiểm sâu, hay đã nộp đơn?
Ví dụ giả định: một gói trọn có ba vòng sửa. Nếu bạn cần vòng thứ tư, báo giá nên ghi sẵn vòng thêm tính bao nhiêu, thay vì để đến lúc đó mới thương lượng khi bạn đã ở thế cần.
Những khoản hay bị thiếu, rồi phát sinh sau
Phần lớn cảm giác "bị hớ" trong dịch vụ đặt tên đến từ những khoản không có trong báo giá ban đầu. Kiểm danh sách sau:
- Lệ phí nhà nước khi nộp đơn nhãn hiệu, tách biệt với phí dịch vụ của đơn vị. Lệ phí phụ thuộc số nhóm hàng hoá, dịch vụ đăng ký; đơn vị phải giải thích bạn cần bao nhiêu nhóm.
- Phí đăng ký tên miền và gia hạn hằng năm, nhất là khi tên miền đẹp đã có người giữ và phải mua lại.
- Kiểm thêm thị trường nếu sau này công ty quyết định ra nước ngoài; báo giá ban đầu thường chỉ kiểm trong nước.
- Vòng sửa thêm vượt số đã thoả thuận.
- Thiết kế logo và nhận diện, thường không nằm trong gói đặt tên dù hai việc hay được bán chung.
- Đổi phạm vi giữa chừng, ví dụ đang đặt tên công ty thì muốn thêm tên cho hai dòng sản phẩm.
Không có khoản nào ở trên là bất thường. Vấn đề chỉ là chúng có được nói trước hay không. Một báo giá tốt có mục "không bao gồm" ghi rõ ràng; khi thấy mục này, bạn có lý do để tin bên báo giá hơn.
"Gói an toàn" nghĩa là gì
Chữ "an toàn" trong tên gói dịch vụ nghe rất yên tâm, nhưng người thuê nên hỏi cụ thể nó an toàn về điều gì. Thông thường, nó có nghĩa là tên đề xuất đã được kiểm ở một số nơi và chưa thấy trùng. Nó không thể có nghĩa là tên chắc chắn được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu, vì việc đó do cơ quan nhà nước quyết định sau thẩm định, và có thể có đơn của người khác đã nộp trước mà cơ sở dữ liệu công khai chưa cập nhật.
Hỏi ba câu để hiểu chữ an toàn của từng đơn vị. Một: kiểm ở đâu, gồm cơ sở dữ liệu nhãn hiệu trong nước, quốc tế, hệ thống đăng ký doanh nghiệp, tên miền? Hai: kiểm trong những nhóm hàng hoá, dịch vụ nào, vì một tên có thể trống trong ngành bạn nhưng trùng ở ngành lân cận. Ba: nếu sau đó tên bị từ chối hoặc bị phản đối, đơn vị cam kết gì, đặt tên lại miễn phí, hoàn một phần tiền, hay không cam kết gì?
Câu trả lời trung thực thường có dạng: "Bên làm đã kiểm ở những nơi này, trong những nhóm này, vào ngày này; khả năng bảo hộ được đánh giá là cao, trung bình hoặc thấp; nếu tên bị từ chối vì lý do lẽ ra đã phát hiện được, bên làm sẽ làm lại". Một câu trả lời kiểu "yên tâm, không bao giờ có chuyện đó" là câu trả lời đáng lo nhất.
So sánh hai báo giá: quy về cùng phạm vi
Ví dụ giả định: một công ty nhận hai báo giá cho việc đặt tên. Nhìn tổng, A rẻ hơn B nhiều. Khi trải ra theo khoản, câu chuyện khác đi.
| Khoản | Báo giá A | Báo giá B |
|---|---|---|
| Phỏng vấn và bản định hướng | Không ghi | Hai buổi, có bản định hướng để duyệt |
| Số tên trong danh sách ngắn | 10 tên | 6 tên |
| Kiểm tra | "Kiểm trùng" không ghi phạm vi | Tên doanh nghiệp, nhãn hiệu trong nước ở hai nhóm, tên miền, có ngày kiểm |
| Vòng sửa | Không ghi | Hai vòng; vòng thêm tính theo ngày công |
| Đánh giá khả năng bảo hộ | Không có | Có, cho 2 tên cuối, do chuyên viên sở hữu trí tuệ |
| Không bao gồm | Không ghi | Lệ phí nộp đơn, tên miền, logo |
A rẻ hơn nhưng không nói gì về những thứ quan trọng nhất. Có thể A thật ra cũng làm những việc đó; cách duy nhất để biết là hỏi và đề nghị ghi vào báo giá. Nếu A từ chối ghi, đó là câu trả lời.
Quy về cùng phạm vi cũng giúp bạn thấy mình thật sự cần gì. Có khi bạn không cần đánh giá khả năng bảo hộ vì đã có người quen làm sở hữu trí tuệ, và lúc đó A cộng thêm phần đó từ người quen có thể là lựa chọn tốt.
Tự ước lượng xem một báo giá có hợp lý không
Người thuê không cần biết giá thị trường để đánh giá một báo giá; chỉ cần ước lượng khối lượng công việc. Cách làm (ví dụ giả định): liệt kê các bước trong báo giá, đoán mỗi bước cần bao nhiêu ngày công của bao nhiêu người. Phỏng vấn và viết định hướng có thể là một đến hai ngày công. Khám phá và chọn hướng thêm hai ngày. Sáng tạo và sàng lọc, nếu ba người làm, có thể năm đến tám ngày công. Kiểm sơ bộ, kiểm sâu, chuẩn bị hồ sơ bàn giao thêm vài ngày nữa, tuỳ phạm vi.
Cộng lại, bạn có một con số ngày công. Chia báo giá cho số ngày công đó sẽ ra một mức giá mỗi ngày công ngầm định. Nếu mức này thấp đến mức khó tin, có khả năng một số bước sẽ không thật sự được làm. Nếu mức này cao hơn nhiều so với giá ngày công của những người làm nghề tương tự mà bạn biết, hãy hỏi phần cao hơn đó trả cho điều gì: kinh nghiệm, uy tín, mạng lưới người bản ngữ, hay chỉ là thương hiệu của đơn vị.
Phép tính này thô, và không nên dùng để mặc cả từng ngày công. Nó chỉ giúp bạn thấy báo giá có tương xứng với phạm vi được hứa hay không. Một báo giá hứa mười bước công phu với giá chỉ đủ cho hai ngày làm việc là báo giá đáng hỏi lại nhất, dù nó trông hấp dẫn nhất.
Câu hỏi gửi lại bên báo giá
Sau khi nhận báo giá, gửi lại những câu dưới đây bằng văn bản. Câu trả lời bằng văn bản sẽ là phụ lục hữu ích khi ký hợp đồng.
- Báo giá này bao gồm những bước nào, mỗi bước bàn giao cái gì?
- Có bao nhiêu vòng sửa, vòng thêm tính thế nào?
- Kiểm tra trùng lặp ở những nguồn nào, nhóm ngành nào, kết quả có ghi ngày không?
- Ai trực tiếp làm, có chuyên viên sở hữu trí tuệ tham gia không?
- Những khoản nào không bao gồm, ước tính các khoản đó ở mức nào?
- Nếu tên bị từ chối khi đăng ký vì lý do lẽ ra phát hiện được, đơn vị cam kết gì?
- Quyền với các tên đề xuất, kể cả tên không chọn, thuộc về ai?
- Lịch thanh toán gắn với mốc nào; có thể dừng sau bước chọn hướng không, khi đó thanh toán bao nhiêu?
Câu cuối đặc biệt quan trọng. Một điểm dừng sớm với chi phí rõ ràng là cách tốt nhất để người thuê không bị khoá vào một dự án đi sai hướng.
Cách các bên trả lời cũng là thông tin. Đơn vị trả lời nhanh, cụ thể, sẵn lòng đưa vào hợp đồng thường cũng là đơn vị làm việc rõ ràng trong suốt dự án. Đơn vị né tránh, trả lời chung chung hoặc bảo "cứ ký rồi tính" cho thấy trước cách họ sẽ xử lý khi có bất đồng.
Câu hỏi thường gặp
Báo giá rẻ bất thường có nên tránh?
Không nhất thiết, nhưng nên hỏi kỹ phạm vi. Giá rẻ có thể vì đơn vị nhỏ, ít chi phí, hoặc vì bỏ bớt bước kiểm tra. Chỉ có cách hỏi và yêu cầu ghi rõ vào báo giá mới biết thuộc trường hợp nào.
Trả trước toàn bộ có ổn không?
Nên chia theo mốc gắn với sản phẩm bàn giao, ví dụ một phần khi ký, một phần khi duyệt hướng, phần còn lại khi bàn giao bộ hồ sơ. Trả trước toàn bộ làm người thuê mất đòn bẩy khi có bất đồng.
Có nên mặc cả giá đặt tên?
Thương lượng được, nhưng nên thương lượng phạm vi thay vì chỉ ép giá. Giảm giá mà giữ nguyên phạm vi thường dẫn tới việc bên làm cắt bớt công ở những chỗ bạn không thấy, như bước kiểm tra.
Lệ phí nhà nước khi đăng ký nhãn hiệu có cố định không?
Lệ phí do quy định của nhà nước, tính theo các hạng mục và số nhóm hàng hoá, dịch vụ trong đơn, có thể thay đổi theo văn bản hiện hành. Hỏi đơn vị dịch vụ hoặc tra trang chính thức của cơ quan sở hữu trí tuệ để biết mức hiện tại.
Có cần hợp đồng cho một gói đặt tên nhỏ không?
Nên có, dù ngắn. Ít nhất cần ghi phạm vi, số vòng, sản phẩm bàn giao, lịch thanh toán và quyền với cái tên. Một trang giấy rõ ràng tránh được phần lớn tranh chấp về sau.
Báo giá có kèm thời hạn hoàn thành thì có ràng buộc gì?
Thời hạn chỉ có ý nghĩa khi đi kèm điều kiện, ví dụ người thuê phản hồi trong bao lâu ở mỗi bước. Nếu bạn chậm duyệt, bên làm không thể chịu trễ hạn; nên ghi cả hai chiều trong hợp đồng.