Pháp luật Việt Nam cho phép công dân đặt tên bằng tiếng dân tộc của mình, không bắt buộc theo khuôn họ – đệm – tên của người Kinh; điều cần là tên được ghi thống nhất từng chữ, từng dấu, kể cả dấu nháy và thứ tự họ tên, trên giấy khai sinh và mọi giấy tờ về sau. Với nhiều dân tộc, họ đứng sau tên, tên có tiền tố chỉ giới tính, hoặc tên gốc được viết bằng một hệ chữ khác rồi phiên ra chữ Latinh; đó là những chỗ dễ bị ghi lệch nhất.
Bài này viết cho cha mẹ người dân tộc thiểu số khi đăng ký khai sinh cho con, cho gia đình có cha mẹ thuộc hai dân tộc, và cho người làm hồ sơ ở những nơi quen với tên người Kinh. Các ví dụ về họ tên nêu theo hiểu biết phổ biến, mỗi cộng đồng có thể có tập quán riêng; gia đình và già làng, người có uy tín trong cộng đồng là nguồn hiểu biết đáng tin nhất.
Quyền đặt tên theo tiếng dân tộc và quyền xác định dân tộc
Bộ luật Dân sự quy định tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam. Cụm "tiếng dân tộc khác" khẳng định rằng tên theo truyền thống của các dân tộc thiểu số là tên hợp lệ ngang với tên tiếng Việt, không phải ngoại lệ phải xin phép. Việt Nam có 54 dân tộc, với rất nhiều cách đặt tên khác nhau.
Luật cũng ghi nhận quyền xác định dân tộc. Khi sinh ra, dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ; nếu cha mẹ thuộc hai dân tộc khác nhau thì theo thoả thuận của cha mẹ, không thoả thuận được thì theo tập quán. Người đã thành niên, trong một số trường hợp theo luật định, có quyền yêu cầu xác định lại dân tộc; đây là một việc hộ tịch riêng, và khi dân tộc thay đổi, nhu cầu điều chỉnh tên cho phù hợp có thể phát sinh theo, cần hỏi nơi đăng ký về cách làm hiện hành.
Trong thực tế, không ít người dân tộc thiểu số có hai tên: một tên theo truyền thống mà gia đình, bản làng gọi, và một tên theo kiểu tiếng Việt phổ thông dùng ở trường hoặc do người làm hồ sơ đặt hộ. Nếu hai tên này xuất hiện lẫn lộn trên các giấy tờ khác nhau, người đó sẽ gặp đúng những rắc rối của việc tên không khớp. Khi đăng ký khai sinh cho con, gia đình nên quyết định rõ tên nào là tên chính thức để ghi lên giấy, còn tên kia dùng như tên gọi.
Về họ, nguyên tắc chung là họ của con theo cha hoặc mẹ theo thoả thuận, không thoả thuận được thì theo tập quán. Điều này phù hợp với những cộng đồng theo chế độ mẫu hệ, nơi con theo dòng họ mẹ như tập quán của người Ê Đê, Gia Rai, cũng như những cộng đồng phụ hệ. Luật để chỗ cho tập quán, không ép mọi dân tộc theo một khuôn.
Một số đặc điểm tên thường gặp và chỗ dễ ghi lệch
Bảng dưới nêu vài đặc điểm theo hiểu biết phổ biến, chỉ để minh hoạ sự đa dạng; mỗi dòng họ, mỗi địa phương có thể khác:
| Cộng đồng (ví dụ) | Đặc điểm thường gặp | Chỗ dễ ghi lệch |
|---|---|---|
| Ê Đê | Tên nam thường mở đầu bằng "Y", tên nữ bằng "H", nhiều tên có dấu nháy; tên dòng họ như Niê, Mlô, Êban đứng cuối | Phần mềm coi chữ đầu "Y", "H" là họ; dấu nháy bị bỏ |
| Gia Rai | Họ dòng như Ksor, Rơ Mah, Siu, Nay đứng cuối tên | Họ hai chữ như Rơ Mah bị tách, chữ "ơ" bị viết thành "o" |
| Hmông | Họ đứng đầu như người Kinh, phổ biến: Giàng, Vàng, Thào, Sùng, Lý, Mua, Vừ | Cùng một họ ghi bằng nhiều cách phiên khác nhau |
| Thái | Họ đứng đầu, phổ biến: Lò, Cầm, Lường, Quàng, Vi | Ít lệch, chủ yếu lỗi dấu |
| Khmer Nam Bộ | Nhiều người mang họ Thạch, Danh, Sơn, Kim, Lâm; tên gốc viết bằng chữ Khmer rồi phiên ra | Một tên có nhiều cách phiên sang chữ Latinh |
Điểm chung của các trường hợp khó là: tên không khớp với giả định "chữ đầu là họ, chữ cuối là tên" mà nhiều biểu mẫu và phần mềm ngầm áp dụng. Khi giấy tờ chỉ có một ô "Họ, chữ đệm và tên", tên vẫn được ghi trọn vẹn đúng thứ tự. Rắc rối nảy sinh khi một hệ thống khác tách chuỗi đó ra để sắp xếp, tìm kiếm, in thẻ.
Họ đứng sau tên: chuyện của biểu mẫu và phần mềm
Với tên theo truyền thống Ê Đê hay Gia Rai, tên dòng họ thường nằm ở cuối, còn chữ đầu là tiền tố chỉ giới tính. Trên giấy khai sinh, cả chuỗi được ghi trong một dòng họ tên, đúng thứ tự gia đình đặt. Nhưng khi chuỗi này đi vào những hệ thống tách họ và tên theo kiểu người Kinh, chữ "Y" hoặc "H" có thể bị hiểu là họ. Kết quả là trong danh sách lớp sắp theo họ, hàng chục học sinh cùng "họ Y" đứng chung một chỗ, còn họ thật thì nằm lẫn ở phần tên.
Đây không phải lỗi pháp lý mà là lỗi hiển thị và tra cứu. Tuy vậy, nó gây phiền thật: tìm hồ sơ theo họ không ra, thư từ gửi "Ông Y" hay "Bà H", chứng chỉ in tên theo thứ tự lộn. Khi gặp, gia đình hoặc chính người mang tên có thể đề nghị nơi quản lý hồ sơ ghi chú đúng phần họ, hoặc ít nhất giữ nguyên toàn bộ chuỗi tên như giấy khai sinh, không để hệ thống tự đảo.
Khi ra nước ngoài, chuyện này còn rõ hơn, vì biểu mẫu tách hẳn ô họ và ô tên. Dòng mã đọc máy trên hộ chiếu cho biết phần nào đang được coi là họ. Người mang tên theo truyền thống họ đứng sau nên kiểm dòng này ngay khi nhận hộ chiếu, và điền mọi biểu mẫu nước ngoài theo đúng cách tách đó để các giấy tờ khớp nhau.
Dấu nháy, chữ đặc biệt và tên phiên từ chữ viết riêng
Nhiều tên của người Ê Đê, Gia Rai, Ba Na và các dân tộc khác ở Tây Nguyên có dấu nháy, như dạng "H'..." hay "Y'...". Dấu nháy là một phần của tên, đánh dấu cách đọc. Nhưng với một số phần mềm, dấu nháy là ký tự đặc biệt: có hệ thống tự xoá, có hệ thống báo lỗi, có hệ thống thay bằng ký tự khác trông giống nhưng mã khác. Kết quả là cùng một người có tên "H'Mai" trên giấy khai sinh, "HMai" trên thẻ bảo hiểm và "H Mai" trên học bạ.
Với những dân tộc có chữ viết riêng như Khmer, Chăm, Thái, tên gốc được viết bằng hệ chữ của dân tộc đó, rồi phiên ra chữ Latinh khi ghi vào giấy tờ. Một tên có thể có nhiều cách phiên tuỳ người phiên. Những chữ có dấu phụ như ơ, ư, ê cũng hay bị viết đơn giản hoá thành o, u, e ở những nơi không quen.
Cách phòng là chọn và cố định một cách viết duy nhất ngay khi đăng ký khai sinh, có cả dấu nháy nếu gia đình muốn, và ghi rõ trên tờ khai. Sau đó, mọi giấy tờ khác phải chép đúng từng ký tự. Nếu gia đình có nhiều con, nên dùng cùng một cách viết họ cho tất cả để tránh tình trạng anh chị em ruột mang họ "khác nhau" trên giấy tờ.
Việc nên làm khi đăng ký khai sinh và làm giấy tờ cho con
Dù sống ở bản làng hay ở thành phố, những bước sau giúp tên của con được ghi đúng và giữ đúng:
- Viết tên con ra giấy bằng chữ in, đủ dấu, dấu nháy và đúng thứ tự, nhờ người trong cộng đồng rành chữ kiểm lại nếu cần.
- Nói rõ phần nào là họ, nhất là khi họ đứng sau tên, để cán bộ ghi đúng và để chính gia đình nhớ khi làm giấy tờ khác.
- Thống nhất dân tộc của con khi cha mẹ thuộc hai dân tộc, vì dân tộc được ghi trên giấy khai sinh và liên quan tới cách đặt tên.
- Soát bản giấy khai sinh từng ký tự trước khi rời nơi đăng ký, đặc biệt dấu nháy và các chữ ơ, ư, ê.
- Mang bản sao giấy khai sinh khi làm thẻ bảo hiểm y tế, nhập học, để nơi tiếp nhận chép theo giấy chứ không theo lời đọc.
- Kiểm mỗi giấy tờ mới, và đề nghị sửa ngay nếu dấu nháy bị bỏ hay thứ tự bị đảo.
Nếu con đi học hoặc làm việc xa nhà, ở nơi người làm hồ sơ không quen tên dân tộc, hãy dặn con chủ động đưa giấy tờ và giải thích cách ghi. Một lời giải thích lịch sự lúc đầu giúp tránh nhiều năm mang tên bị ghi sai.
Tôn trọng tên gọi là tôn trọng con người
Với nhiều cộng đồng, tên không chỉ là nhãn để phân biệt. Tên dòng họ cho biết người đó thuộc về dòng nào, có quan hệ với ai, được phép kết hôn với ai theo tập quán. Tiền tố chỉ giới tính, cách đặt tên theo ông bà, theo sự kiện, đều mang những tầng nghĩa mà người ngoài khó thấy. Khi một người làm hồ sơ "sửa cho đúng chính tả" một cái tên dân tộc, họ có thể vô tình xoá đi những tầng nghĩa ấy.
Đã có không ít trường hợp tên người dân tộc thiểu số bị Kinh hoá trên giấy tờ do người ghi không quen, rồi người mang tên cả đời phải dùng một cái tên không giống tên gia đình gọi. Không cần trách ai; điều cần là cả gia đình lẫn người làm hồ sơ hiểu rằng tên dân tộc là tên hợp pháp, có quyền được ghi đúng như chính chủ mong muốn.
Nếu bạn là người làm hồ sơ ở trường học, bệnh viện, ngân hàng, hãy chép đúng theo giấy tờ gốc, không tự đơn giản hoá, và khi không chắc phần nào là họ thì hỏi chính người đó. Một câu hỏi lịch sự luôn tốt hơn một lỗi ghi sai bám theo người khác nhiều năm.
Câu hỏi thường gặp
Người dân tộc thiểu số có bắt buộc đặt tên con theo kiểu người Kinh không?
Không. Bộ luật Dân sự cho phép đặt tên bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam. Gia đình có thể chọn tên theo truyền thống dân tộc mình, theo kiểu tiếng Việt phổ thông, hoặc kết hợp, miễn tuân thủ các nguyên tắc chung như không dùng số hay ký hiệu.
Dấu nháy trong tên có được ghi trên giấy khai sinh không?
Dấu nháy là một phần quen thuộc của nhiều tên ở Tây Nguyên và thường được ghi trên giấy tờ. Tuy nhiên, một số phần mềm có thể xử lý không tốt ký tự này. Gia đình nên thống nhất cách viết từ đầu, soát kỹ khi nhận giấy và đề nghị sửa ngay nếu dấu nháy bị bỏ.
Cha người Kinh, mẹ người Ê Đê thì con theo dân tộc và họ nào?
Dân tộc và họ của con do cha mẹ thoả thuận; không thoả thuận được thì theo tập quán. Gia đình có thể chọn con theo dân tộc và họ của cha, hoặc của mẹ. Nên bàn kỹ cùng hai bên gia đình, vì lựa chọn này liên quan tới cả cách đặt tên và quan hệ dòng họ.
Tên phiên từ chữ Khmer có nhiều cách viết, chọn thế nào?
Chọn một cách viết mà gia đình và cộng đồng quen dùng, ưu tiên cách đã dùng cho anh chị em hoặc cha mẹ để thống nhất họ. Sau khi đăng ký khai sinh, giữ đúng cách viết đó trên mọi giấy tờ, không đổi theo cách phiên của từng nơi làm hồ sơ.
Trên danh sách lớp, con bị xếp vào "họ Y" thay vì họ thật, có sao không?
Về pháp lý không ảnh hưởng, vì giấy khai sinh vẫn ghi đầy đủ. Nhưng nó gây khó khi tra cứu và có thể dẫn tới chứng chỉ in sai thứ tự. Nên trao đổi với nhà trường để ghi chú đúng phần họ, hoặc giữ nguyên chuỗi tên như giấy khai sinh.
Muốn đổi tên theo kiểu người Kinh sang tên dân tộc khi đã trưởng thành được không?
Thay đổi tên chỉ thực hiện khi có căn cứ theo Bộ luật Dân sự, ví dụ tên đang dùng ảnh hưởng tới tình cảm gia đình hoặc quyền lợi của mình; nếu đồng thời có yêu cầu xác định lại dân tộc thì đó là một việc hộ tịch riêng đi kèm. Nên hỏi UBND cấp xã nơi cư trú về điều kiện và thủ tục hiện hành.