DichVuDatTen.comĐặt tên con, tên công ty hay và ý nghĩa
Đặt tên con theo năm sinh, mùa sinh: góc văn hoá

Đặt tên cho con sinh năm Dậu: gà gáy sáng, năm đức của gà và tên gợi bình minh

Chữ Dậu vốn vẽ chiếc vò rượu, gà đến sau. Năm đức của gà, tranh Gà đại cát, canh gà Thọ Xương, ai là tuổi Dậu tính theo Tết và các nhóm tên kèm chữ Hán.

A rooster perched on a bamboo fence at dawn in a northern Vietnamese village, mist over rice fields, a grandmother scattering grain seen from behind, soft rose and gold light

Với con sinh năm Dậu, cha mẹ thường mượn những hình ảnh mà người Việt gắn với con gà: tiếng gáy gọi sáng và sự đúng giờ, năm đức "văn, võ, dũng, nhân, tín" trong sách xưa, con gà trống trong tranh Tết, đàn gà mẹ con quây quần, cùng ráng chiều của giờ Dậu và trăng rằm tháng Tám. Các chữ như Đán, Hy, Văn, Dũng, Tín, Hà, Quế là những gợi ý quen.

Đây là góc văn hoá – tham khảo. Con giáp không có căn cứ khoa học nào cho thấy năm sinh quyết định tính cách hay đường đời của đứa trẻ, nên cũng không có tên "hợp" hay "kỵ" tuổi Dậu. Năm Đinh Dậu gần nhất bắt đầu từ Tết 28/1/2017; năm Dậu kế tiếp là Kỷ Dậu 2029. Bài đi từ chữ Dậu, qua sách cổ, tranh dân gian, ca dao, rồi mới tới các nhóm tên kèm chữ Hán.

Chữ Dậu: từ chiếc vò rượu tới con gà

Dậu (酉) là chữ thứ mười trong mười hai địa chi. Điều ít người để ý là tự dạng của chữ này vốn vẽ một chiếc vò, chiếc bình đựng rượu: miệng hẹp, thân phình, đáy tròn. Dấu vết còn rõ trong những chữ Hán có bộ Dậu, phần lớn liên quan tới rượu và sự lên men, như tửu (酒, rượu), tương (醬, tương, nước chấm lên men), thố (醋, giấm). Con gà được ghép với chữ Dậu về sau, khi người ta gán mười hai con vật cho mười hai địa chi để dễ nhớ.

Theo cách chia giờ cổ, giờ Dậu là khoảng từ 17 giờ đến 19 giờ, lúc mặt trời lặn, gà lên chuồng, khói bếp bốc lên trong xóm. Trong năm âm lịch, tháng Dậu là tháng Tám, tháng có rằm Trung thu. Trong cách chỉ phương hướng cổ, Dậu ứng với phương Tây, nơi mặt trời lặn. Thú vị là con gà nổi tiếng nhờ tiếng gáy buổi sáng, còn giờ và phương của chữ Dậu lại thuộc về buổi chiều.

Hai đầu ngày ấy cho cha mẹ hai bảng màu khác nhau để chọn tên. Một bên là bình minh và tiếng gà gọi sáng, sáng sủa, khởi động. Bên kia là ráng chiều, bữa cơm tối, trăng thu, ấm áp và lắng lại. Bé sinh vào buổi chiều hay vào tháng Tám âm lịch có sẵn một kỷ niệm thật để gắn vào tên; bé sinh vào lúc khác vẫn có thể mượn hình ảnh tiếng gáy buổi sớm, vì đó là thứ ai nghe chữ "gà" cũng nghĩ tới đầu tiên.

Năm đức của gà trong sách xưa: văn, võ, dũng, nhân, tín

Nguồn gốc của câu chuyện. Sách Hàn Thi ngoại truyện thời Hán chép chuyện một người tên Điền Nhiêu nói với vua nước Lỗ rằng con gà có năm đức, vậy mà ngày ngày ở ngay trong sân nên chẳng được ai coi trọng. Năm đức ấy về sau được nhắc lại rất nhiều trong văn hoá chữ Hán và ở Việt Nam, thành cách nói quen về con gà trống. Đây là một ẩn dụ của người xưa, không phải nhận định về con gà thật hay về người tuổi Dậu.

Văn (文). Đầu đội mào, như người đội mũ của bậc có học. Từ đức này có thể lấy chữ Văn (文, văn chương, vẻ đẹp có trật tự) hoặc Nhã (雅, thanh nhã).

Võ (武). Chân có cựa, như mang vũ khí. Chữ Võ, cũng đọc là Vũ (武), mang nghĩa sức mạnh có kỷ luật; chữ này hợp làm tên đệm hoặc ghép thành Văn Võ, Minh Vũ. Cần ghi rõ chữ Hán vì âm Vũ còn ứng với 雨 (mưa) và 宇 (bầu trời).

Dũng (勇). Gặp địch trước mặt thì dám đương đầu. Dũng là chữ quen của tên con trai, nhưng nghĩa gốc là lòng can đảm, dùng cho con gái cũng không sai.

Nhân (仁). Tìm được thức ăn thì cục cục gọi cả đàn tới. Đây có lẽ là đức dễ mến nhất trong năm đức: biết chia sẻ. Chữ Nhân (仁, lòng thương người) có thể đi với Hậu, Thiện hoặc đứng làm tên đệm.

Tín (信). Giữ canh không lỡ giờ, ngày nào cũng gáy đúng lúc. Tín (信) là giữ lời, đáng tin. Nhiều gia đình thích đức này nhất, vì nó gắn trực tiếp với tiếng gáy, thứ làm nên con gà trong ký ức mọi người.

Dùng năm đức thế nào cho nhẹ. Không cần nhồi cả năm chữ vào tên. Chọn một đức gia đình quý nhất, dùng chữ ấy làm tên hoặc đệm, rồi kể cho con nghe chuyện Điền Nhiêu khi con đủ lớn. Tên Tín của một bé tuổi Dậu khi ấy không phải bùa may mà là một lời nhắn của cha mẹ: con hãy là người đúng hẹn, giữ lời.

Gà trong tranh Tết và mâm cỗ

Trong tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh), gà là một trong những con vật quen nhất. Bức nổi tiếng là tranh gà trống mang hai chữ "Đại cát" (大吉, rất tốt lành): con gà đứng vững, mào đỏ, đuôi cong, thường dán dịp Tết như một lời chúc năm mới. Cạnh đó là tranh đàn gà mẹ con, gà mái dẫn một bầy gà con quanh chân, gợi cảnh nhà đông con cháu, ấm cúng. Bộ tranh Vinh hoa vẽ em bé ôm con gà, thường treo thành đôi với tranh Phú quý vẽ em bé ôm con vịt.

Ngoài tranh, con gà còn có mặt ở bữa cỗ. Ở nhiều gia đình phía Bắc, mâm cỗ Tất niên hay đêm giao thừa thường có một con gà trống luộc vàng óng. Người ta chọn gà trống, chọn con đẹp mã, luộc khéo để da không nứt. Đó là một phần ký ức Tết mà nhiều người lớn lên ở làng còn nhớ: mùi lá chanh, đĩa xôi gấc, con gà đặt giữa mâm.

Từ hai nguồn ấy, cha mẹ có thể lấy những chữ về sự tốt lành, sự sum vầy thay vì nhắc tới con gà: Cát (吉, tốt lành), Khánh (慶, mừng), Từ (慈, hiền từ, gợi gà mẹ che chở đàn con), Gia (家, nhà). Một cái tên như Gia Từ hay Minh Khánh không có bóng con gà nào, nhưng khi kể lại thì câu chuyện bắt đầu từ bức tranh dán tường ngày Tết năm con chào đời.

Canh gà Thọ Xương, gà cùng một mẹ: ca dao và thành ngữ

Câu ca dao quen nhất về tiếng gà có lẽ là "Gió đưa cành trúc la đà / Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương". Thọ Xương là tên một huyện của kinh thành Thăng Long – Hà Nội xưa; tiếng gà gáy canh ở đó được ghép với tiếng chuông đền Trấn Vũ thành âm thanh đặc trưng của buổi sớm đất kinh kỳ. Ở đây con gà là chiếc đồng hồ của cả một vùng, đúng với đức Tín trong sách cổ.

Một câu khác hay được ông bà dạy cháu: "Khôn ngoan đá đáp người ngoài / Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau". Câu này nhắc anh chị em trong nhà thương nhau, đừng tranh giành. Thành ngữ thì có cả khen lẫn chê: "gà trống nuôi con" chỉ người cha một mình nuôi con, nghe thương; "gà tức nhau tiếng gáy" chỉ thói ganh nhau từng chút; "như gà mắc tóc" chỉ sự lúng túng không gỡ ra được.

Sách xưa còn để lại thành ngữ "văn kê khởi vũ" (聞雞起舞), nghe gà gáy thì dậy múa kiếm. Tương truyền Tổ Địch đời Tấn, khi còn trẻ, cứ nửa đêm nghe gà gáy là trở dậy luyện võ, về sau thành người có công. Thành ngữ dùng để khen người chăm rèn luyện, biết dậy sớm làm việc lớn. Với một bé tuổi Dậu, đó là chất liệu đẹp để giải thích một cái tên như Cần, Mẫn hay Đán: tiếng gà là lời gọi dậy, không phải điềm báo gì.

Nhóm tên gợi hình ảnh năm Dậu

Bảng gom tên theo các hình ảnh đã nói. Nghĩa ghi theo chữ Hán thường dùng khi đặt tên; danh sách không xếp hạng, không hàm ý tên nào "hợp tuổi".

Hình ảnhTên (chữ Hán, nghĩa)Gợi ý ghép
Gà gáy gọi sángĐán (旦, buổi sớm) · Hy (曦, nắng sớm) · Thự (曙, rạng đông)Minh Đán · Ánh Hy · Thự Minh
Năm đức của gàVăn (文) · Vũ (武) · Dũng (勇) · Nhân (仁) · Tín (信)Văn Vũ · Trọng Nhân · Hữu Tín
Gà mẹ che chở đàn conTừ (慈, hiền từ) · Gia (家, nhà) · Hoà (和, êm ấm)Gia Từ · An Hoà
Tranh Tết, lời chúcCát (吉, tốt lành) · Khánh (慶, mừng) · Vinh (榮, vẻ vang)Minh Khánh · Gia Vinh
Ráng chiều giờ DậuHà (霞, ráng mây) · Đan (丹, đỏ son) · Huy (暉, ánh nắng; "tà huy" là nắng chiều)Minh Hà · Thu Hà · Minh Huy
Tháng Tám, trăng thuQuế (桂, cây quế trên cung trăng) · Thu (秋) · Viên (圓, tròn đầy)Thu Quế · Minh Viên

Hà là âm có nhiều chữ: 霞 là ráng mây buổi sáng sớm hoặc chiều tà, còn 河 là sông. Nếu muốn gợi giờ Dậu thì nên ghi rõ 霞, kẻo về sau người khác giải nghĩa thành dòng sông. Thự (曙) và Đán (旦) ít gặp làm tên chính nhưng nghĩa rất đẹp, hợp làm tên đệm.

Chữ Hùng (雄) cũng có gốc liên quan tới gà: nghĩa ban đầu của nó là con trống trong loài chim, sau mới mở rộng thành mạnh mẽ, kiệt xuất. Đây là một chi tiết vui để kể, chứ không phải lý do bắt buộc chọn chữ Hùng cho bé trai tuổi Dậu.

Ai là "tuổi Dậu": tính theo Tết, không theo 1/1

Năm con giáp tính theo âm lịch, bắt đầu từ mùng Một Tết. Năm Đinh Dậu bắt đầu từ ngày 28/1/2017, và Tết Mậu Tuất rơi vào ngày 16/2/2018. Vì vậy bé sinh từ 28/1/2017 đến hết 15/2/2018 là tuổi Dậu. Bé sinh trong tháng 1/2017 trước ngày 28 vẫn thuộc năm Bính Thân (khỉ); bé sinh từ đầu năm 2018 đến hết 15/2/2018 vẫn tuổi Dậu dù giấy khai sinh ghi năm 2018.

Năm Dậu kế tiếp là Kỷ Dậu 2029. Ngày Tết năm đó nên đối chiếu trên lịch âm dương chính thức khi tới gần, thay vì đoán theo năm trước. Một số hệ lịch pháp cổ tính đầu năm can chi từ tiết Lập Xuân, vào khoảng đầu tháng 2 dương lịch, nên đôi khi hai nguồn nói khác nhau về tuổi của bé sinh quanh thời điểm đó. Trong đời sống người Việt, mốc thông dụng là Tết; gia đình theo mốc nào thì thống nhất trong nhà là được.

Thời điểm sinh là quyết định y khoa của bác sĩ sản khoa, dựa trên sức khoẻ của mẹ và bé. Không nên chọn ngày mổ hay xin sinh sớm, sinh muộn để con "được" tuổi Dậu hay "tránh" năm nào. Con giáp là chuyện để kể, không đáng đổi lấy một chút rủi ro nào. Ở làng quê xưa, không ít người mang luôn tên địa chi làm tên gọi như Tý, Dậu, Hợi; người đọc văn chương quen nhất có lẽ là anh Dậu, chị Dậu trong tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Ngày nay chữ Dậu hiếm khi được chọn làm tên chính, vì nghe gần với lối gọi tên ở nhà.

Biến năm Dậu thành câu chuyện, và chuyện chữ "gà" trong tiếng lóng

Cách đặt tên theo năm sinh có giá trị nhất khi nó thành một câu chuyện có đầu có đuôi. Ví dụ giả định: một bé gái sinh lúc chiều muộn đúng mùa Trung thu năm Dậu được đặt tên Thu Hà, chữ Hà là ráng chiều (霞). Khi con lên năm, mẹ kể rằng con chào đời lúc trời đỏ ráng, giờ gà lên chuồng, tối hôm ấy cả nhà ăn bánh nướng trong bệnh viện. Đứa trẻ nhớ câu chuyện đó lâu hơn mọi lời giải nghĩa chữ Hán.

Điều nên tránh là biến con giáp thành nhãn dán tính cách. Những câu như "tuổi gà nên con hay cãi", "tuổi Dậu nên phải dậy sớm" nghe như đùa nhưng trẻ nhỏ dễ tin, rồi dùng nó để giải thích việc mình làm. Các nghiên cứu tâm lý về việc gắn nhãn cho thấy trẻ có xu hướng cư xử theo cách người lớn hay nói về mình, nên lời nói vô tình nặng hơn ta nghĩ.

Cũng nên biết trong tiếng lóng hiện nay, "gà" có thể dùng để chê người non tay, mới vào nghề. Vì vậy một cái tên quá sát con vật dễ thành mồi trêu ở tuổi đi học. Tên ở nhà kiểu Gà, Gà Con, Bé Gà thì vô hại khi con còn nhỏ, nhưng khi con lớn nên để con quyết định có giữ hay không. Tên chính thức gợi gà một cách gián tiếp, qua bình minh, qua chữ Tín, qua ráng chiều, thì không ai trêu được mà vẫn giữ nguyên câu chuyện.

Câu hỏi thường gặp

Bé sinh ngày 5/2/2018 là tuổi Dậu hay tuổi Tuất?

Là tuổi Dậu. Năm Đinh Dậu kéo dài tới hết 15/2/2018 vì Tết Mậu Tuất là 16/2/2018. Mọi bé sinh từ 1/1/2018 đến 15/2/2018 đều thuộc năm Đinh Dậu theo cách tính phổ biến lấy Tết làm mốc đầu năm âm lịch.

Giờ Dậu là mấy giờ, tháng Dậu là tháng nào?

Giờ Dậu là khoảng 17 giờ đến 19 giờ, lúc mặt trời lặn. Tháng Dậu là tháng Tám âm lịch, tháng có Tết Trung thu. Bé sinh vào giờ hoặc tháng này có thể mang tên gợi ráng chiều như Hà (霞) hoặc trăng thu như Quế, Thu.

Năm đức của gà có phải là tính cách của người tuổi Dậu không?

Không. Năm đức văn, võ, dũng, nhân, tín là một ẩn dụ trong sách cổ, dùng con gà trống để nói về phẩm chất đáng quý. Không có căn cứ khoa học nào cho thấy người sinh năm Dậu mang những đức ấy nhiều hay ít hơn người khác.

Có nên đặt tên con chính thức là Dậu không?

Có thể, vì pháp luật không cấm, nhưng ngày nay ít gặp và dễ bị coi là tên gọi ở nhà hoặc tên của người lớn tuổi. Nếu muốn năm sinh có mặt trong tên, các chữ gợi hình ảnh như Đán, Tín, Hà, Quế thường dùng được lâu hơn.

Đặt tên con tuổi Dậu có cần tránh chữ nào không?

Không có căn cứ khoa học cho việc tránh chữ theo tuổi. Các danh sách chữ nên tránh trên mạng là quy ước dân gian, mỗi nguồn một khác. Điều nên cân nhắc là nghĩa, âm đọc với họ, khả năng bị trêu và lệ kiêng trùng tên người lớn trong nhà.

Năm Dậu tiếp theo là năm nào?

Sau Đinh Dậu 2017, năm Dậu tiếp theo là Kỷ Dậu 2029. Năm này cũng bắt đầu từ Tết âm lịch, nên bé sinh tháng 1 hoặc đầu tháng 2 năm 2029 cần đối chiếu ngày Tết trên lịch chính thức để biết là tuổi Thân hay tuổi Dậu.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.